Khái niệm 5S (5S methodology) bắt nguồn từ Nhật Bản vào đầu những năm 1980 thế kỷ XX. Năm 1986, 5S được phổ biến ở nhiều nước như Singapore, Trung Quốc, Ba Lan…  

Được đưa vào Việt Nam khi Nhật mở rộng đầu tư và Vikyno là công ty Việt Nam đầu tiên áp dụng 5S từ năm 1993.

Hiện nay có rất nhiều bệnh viện trong và ngoài nước áp dụng phương pháp 5S trong quản lý chất lượng bệnh viện. Có thể kể đến các bệnh viện công lập lớn trong nước như: Bệnh viện Truyền máu huyết học, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Trưng Vương Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện đa khoa Trung Ương Quảng Nam… đến các bệnh viện tư nhân như: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn, Bệnh viện Quốc tế Phương Châu…

Một nghiên cứu được thực hiện tại một số bệnh viện trên thế giới đã chỉ ra rằng, việc áp dụng triết lý Kaizen và phương thức 5S đã làm tăng diện tích lưu trữ thêm 10%, đồng thời giảm thời gian tìm kiếm tài liệu xuống 20%. 5S không chỉ là những nguyên tắc mà đã trở thành một tập quán quản trị trong doanh nghiệp Nhật Bản. Đó là văn hóa “sạch sẽ” nơi công sở nhằm triệt tiêu sự lãng phí và tăng hiệu suất làm việc.

Hiện nay, “việc cải tiến liên tục (Kaizen) các quá trình” là mục tiêu của nhiều doanh nghiệp trong đó có rất nhiều bệnh viện áp dụng nhằm giảm quá tải. Kaizen bao gồm việc sáng tạo và thực hiện những ý tưởng nhằm đạt được mục tiêu bằng những phương pháp mang lại hiệu quả cao hơn. Mục tiêu của Kaizen không phải là giảm chi phí mà là làm cho công việc đơn giản hơn, nhanh hơn, tiện ích hơn và hiệu quả hơn. Chìa khóa để thực hiện Kaizen chính là không ngừng đưa ra các ý tưởng nhằm thúc đẩy cải tiến.

5S ngăn chặn sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng, tạo sự thông thoáng cho nơi làm việc, đỡ mất thời gian cho việc tìm kiếm vật tư, hồ sơ cũng như tránh sự nhầm lẫn. Người làm việc cảm thấy thoải mái, làm việc có năng suất cao và tránh được sai sót. Các thiết bị vật tư hoạt động trong môi trường phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng an toàn.

Để thực hiện được điều này, các nhân viên trong khoa đó đã bắt đầu bằng việc Seiri (Sàng lọc). Cụ thể là, khu vực làm việc đã được đánh dấu rõ ràng đi kèm với việc áp dụng nhãn đỏ cho tất cả các yếu tố được coi là không cần thiết cho bộ phận phục vụ bệnh nhân. Đồng thời, mọi vật không có giá trị sử dụng đã được loại bỏ.

Kết thúc Seiri, hai quá trình tiếp theo được áp dụng là Seiton (Sắp xếp) và Seiso (Sạch sẽ). Qua hai quá trình này, tất cả các đối tượng được đặt không phù hợp đã được kiểm kê và được thay thế bằng các vật dụng cần thiết cho khu vực khám chữa bệnh của khoa đó. Cùng với đó, các tiêu chuẩn trực quan của sự sắp xếp hợp lý đã được thiết lập.

Để thực hóa 5S cho bệnh viện, chúng ta cần áp dụng từng khoa một, không nên thực hiện đại trà. Khi áp dụng lần lượt bạn sẽ dễ dàng thu được kết quả tốt nhất và rút được kinh nghiệm để áp dụng cho những khoa tiếp theo. Trước khi thực hiện các khoa nên chụp lại tất cả ảnh trước và sau để dễ dàng so sánh.

Khi thực hiện đúng 5S, nhân viên y tế góp phần nâng cao chất lượng phục vụ của bệnh viện, chi phí khám chữa bệnh của bệnh nhân hợp lý hơn, thời gian điều trị có thể ngắn hơn, mang lại sự hài lòng của bệnh nhân cho bệnh viện. Đồng thời chỉ tiết kiệm được sức lực cho nhân viên y tế. Giúp họ sau giờ làm việc vẫn còn sức khỏe tốt, tinh thần sảng khoái để tham gia các hoạt động giải trí, chăm sóc gia đình tốt hơn.

Kaizen không phải là một công cụ, không phải là một kỹ thuật mà là một triết lý. Việc áp dụng các nguyên tắc Kaizen có thể ví như một cuộc đối thoại liên tục giữa người quản lý và người lao động (các bác sĩ, điều dưỡng) và giữa người lao động này với người lao động khác. Chính vì thế, các yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động Kaizen và 5S bao gồm: Cam kết của lãnh đạo cao nhất, vai trò của cán bộ quản lý các phòng ban, tổ, nhóm, sự nỗ lực tham gia của mọi người, việc triển khai cải tiến được thực hiện liên tục, hàng ngày.

5 S là 5 chữ cái đầu của các từ:

– Sàng lọc (Seiri – Sorting out): Sàng lọc những cái không cần thiết tại nơi làm việc và loại bỏ chúng.

– Sắp xếp (Seiton – Storage): Sắp xếp mọi thứ ngăn nắp và đúng chỗ của nó để tiện sử dụng khi cần.

– Sạch sẽ (Seiso – Shining the workplace): Vệ sinh, quét dọn, lau chùi mọi thứ gây bẩn tại nơi làm việc.

– Săn sóc (Seiletsu – Setting standards): Đặt ra các tiêu chuẩn cho 3S nói trên và thực hiện liên tục. 

– Sẵn sàng (Shitsuke – Sticking to the rule): Tạo thói quen tự giác, duy trì và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tại nơi làm việc để mọi thứ luôn sẵn sàng.

Tóm tắt về thân thế sự nghiệp và những hoạt động của ông

trong lĩnh vực y học cổ truyền.

 

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch sinh ngày 7/5/1909 tại Quy Nhơn, học Đại học Y Hà Nội từ năm 1928, hai năm cuối Ông sang  Pháp du học chuyên sâu về bệnh lao phổi, tốt nghiệp Bác sĩ ở Paris năm 1934. Sau khi học xong Ông được thăng chức làm Giám đốc Bệnh viện Lao vùng núi phía Đông nước Pháp.

Năm 1936 Ông trở về nước mở phòng mạch tư ở Sài gòn, năm 1937 ông cưới một nữ y tá người Pháp là bà Marie Louise làm vợ và có 2 người con là Colette Phạm Thị Ngọc Mai và Alain Phạm Ngọc Định.

Tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn từ thời kỳ mặt trận bình dân (1936 – 1939), vào Đảng cộng sản Đông dương tháng 3 năm 1945 và là thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên tiền phong, tham gia cướp chính quyền tháng 8 năm 1945.

Cách mạng tháng tám thành công. Chính phủ lâm thời nước Việt nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ y tế đầu tiên của nước ta (27/8/1945 – 1/1946), đồng thời là ủy viên Ủy ban nhân dân Nam bộ phụ trách công tác đối ngoại, là thành viên của phái đoàn Chính phủ Việt Nam tham gia đàm phán với đại diện của Chính phủ Pháp.

Cuối năm 1946, Ông làm Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, đặc phái viên của Chính phủ sang các nước láng giềng và một số nước Châu âu để trình bày quan điểm của Đảng và Chính phủ ta về kháng chiến chống Pháp.

Năm 1948, Ông được cử làm Trưởng phái đoàn Chính phủ vào Nam bộ công tác, sau đó được bầu làm Thường vụ khu ủy, kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn – Chợ Lớn.

Giữa năm 1953, Ông được phân công làm Trưởng Ban y tế của Đảng phụ trách công tác y tế an toàn khu (ATK) và là Giám đốc bệnh xá 303. Ngoài công việc y tế, Ông còn tham gia các hoạt động chính trị và ngoại giao khác của Chính phủ.

Năm 1954, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại được cử làm Thứ trưởng, năm 1958 làm Bộ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Y tế cho đến ngày 7/11/1968, Ông hy sinh trong một căn nhà tranh giữa miền chiến khu Đông Nam bộ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân đang diễn ra rất quyết liệt. Ông hy sinh khi thân chinh tới mặt trận trực tiếp cứu chữa thương binh, tìm cách trị bệnh cho nhân dân và chiến sĩ ta.

Tại Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc năm 1958, ông  được nhà nước tuyên dương là Anh hùng lao động.

Ngày10/9/1996 Ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

 Ông là một chiến sĩ cách mạng của Đảng và của cả dân tộc; là người có công to lớn trong cuộc đấu tranh với bệnh lao và đưa sự nghiệp y tế của dân tộc ta phát triển. Công lao của ông trong sự nghiệp cách mạng dân tộc và sự nghiệp y tế rất to lớn.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung vào lĩnh vực Y học cổ truyềnBác sĩ Phạm Ngọc Thạch là người có công khơi dậy và phát triển

     (GS.BS. Trần Cửu Kiến – nguyên phó giám đốc Bệnh viện Hữu Nghị) kể chuyện : Năm 1945 khi đưa mẹ đến khám bệnh tại phòng mạch bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Bác sĩ Thạch đã nói với ông như sau: Tuyên truyền vệ sinh và tân y học trong giới đồng bào nghèo thì tốt đó, nhưng y học cổ truyền của ông cha mình cũng rất nhiều cái độc đáo lắm, tuy nhiên nó bị nạn mê tín dị đoan xen vào, phải biết phân biệt. Anh dặn tôi học thuốc Nam, mà chẩn đoán theo phương pháp hiện đại. Vì trong nước mình có nhiều cây thuốc, dân mình còn nghèo, còn rất nhiều bệnh thông thường chữa bằng thuốc Nam được. Không ngờ rằng ý nghĩ ấy đã chín muồi khi sau này anh làm Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

Ông hết sức coi trọng những kinh nghiệm chữa trị trong nhân dân, những vốn quý của nền Y học cổ truyền dân tộc.

    - Ông thường nói: hơn 4.000 năm lịch sử, để tồn tại, dân tộc ta đã tự chữa trị được nhiều bệnh hiểm nghèo, giữ gìn được sức khỏe là nhờ có Y học dân tộc. Ta có nhiều cây thuốc quý, kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân ta rất phong phú và hiệu quả, tại sao trong khi khám, chữa bệnh người thầy thuốc Việt Nam lại không kết hợp các phương pháp của Y học cổ truyền với Y học hiện đại ?

       -Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận Y học Việt Nam”, Ông viết: “Việc xem khinh y học cổ truyền, y học dân gian có nguồn gốc giai cấp của nó trong xã hội có giai cấp mà giai cấp thống trị là giai cấp tư sản phải tìm mọi cách để chôn vùi vốn văn hoá của dân tộc, của nhân dân lao động. Những luận điểm tuyên truyền cho Đông y là phản khoa học cũng giống như những luận điệu chống lại văn hoá, kinh nghiệm văn hoá trong nhân dân lao động”…

       - Một trong 5 phương châm nguyên tắc của ngành y tế mà ông đề ra đó là KẾT HỢP ĐÔNG Y VÀ TÂY Y,theo Ông :

Đông Y và Tây Y không phải là hai nền Y học mà là hai chuyên ngành của một nền Y Học Việt Nam thống nhất. Kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc trong mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó y học cổ truyền dân tộc là một di sản văn hoá của dân tộc cần được vảo vệ, phát huy và phát triển. Quan điểm kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại đã được Ông đặt vào vị trí xứng đáng với các quan điểm lớn của nền Y học Xã hội chủ nghĩa.

       - Ông đưa phong trào thuốc nam, châm cứu là một trong “Năm dứt điểm” của Ngành y tế. Ngày 15.3.1967, trong lời giới thiệu sách “thuốc Nam, châm cứu” Ông viết: “Rất mong không những cán bộ cơ sở, mà tất cả các cán bộ y tế của chúng ta, từ Trung ương đến cơ sở nghiên cứu tích cực, đẩy mạnh phong trào trồng cây thuốc Nam khắp nơi, bào chế thuốc Nam ở địa phương, trị bệnh bằng thuốc Nam, châm cứu”.

         - Năm 1948, Ds Nguyễn Duy Cương  gặp BS. Phạm Ngọc Thạch ở Bangkok, Thái Lan cũng được căn dặn phải quan tâm đến “Cây con làm thuốc vì đó là hướng đi độc đáo của ta”.

      -  Ông xem báo, đọc tin, nghe đài biết ở đâu xuất hiện có ông Lang, bà Mế, ở đâu có thuốc hay, Ông mời về nhà gặp để nghiên cứu và khai thác. Ông nói: “Mình nghe dân, học dân để phục vụ dân”

      -Ông nói:”Với hoàn cảnh kinh tế còn nghèo của đất nước mình, chạy theo nghiên cứu thuốc tân dược thì biết bao giờ kịp các nước có nền kinh tế công nghiệp dược phẩm hiện đại. Phải khai thác y học cổ truyền, có chọn lọc”. Cho nên Ông phân công dược sĩ Trần Văn Luận về thành lập “Viện dược liệu Trung ương” và đưa bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng về làm giám đốc “ Viện nghiên cứu Đông Y”.

         - Có lần ông đến thăm một xã hẻo lánh, thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, ông hỏi tỉ mỉ một cụ già đang ngồi vót nan: “thu hoạch của cụ một tháng bao nhiêu? Cụ già không biết tính toán, nhưng cụ nói ra số thóc, số trái cây và số con gà nuôi được; tính đi tính lại, chỉ có 7 đồng/1 tháng” (khoảng 18 kg gạo), ông ngồi thừ ra một hồi lâu, vẻ mặt đượm buồn, mãi ông mới nói riêng với anh em: “Người ta có 7 đồng/1 tháng thì lấy tiền đâu ra mua thuốc chữa bệnh!” Ông lại hỏi cụ già: “Khi nhà có người ốm thì chữa bệnh bằng cách gì?” Cụ đáp: “Chữa bằng thuốc Nam”. Ông lại hỏi cụ thể, rồi ghi chép, tìm hiểu, nhận dạng mặt cây thuốc và hỏi rõ về cách trồng và cách chế biến. Từ đó, lòng quyết tâm kết hợp thuốc Đông và thuốc Tây lại càng thể hiện mạnh mẽ trong tâm trí ông: Ông đã tìm gặp và đón ông lang Vạn, lương y ở Thanh Hóa ra tận bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội để hướng dẫn về kỹ thuật nắn bó gãy xương. Với lòng tự hào dân tộc và tinh thân độc lập, tự chủ sâu sắc, ông đã có quyết tâm cao trong công tác nghiên cứu y dược học cổ truyền Việt Nam, thừa kế kinh nghiệm thuốc Nam của ông cha ta, đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát, sưu tầm, nuôi trồng chế biến sử dụng dược liệu trong phong trào thuốc nam ở xã. Ngay từ năm 1959-1960, khi ông trở lại giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Y tế, Ông đã xây dựng mở rộng phòng kiểm nghiệm hóa học về thuốc, thành Viện dược liệu trung ương, gồm cả công tác dược liệu và kiểm nghiệm thuốc. Ông khuyến khích cán bộ dược đi làm công tác điều tra, sưu tầm, trồng trọt, chỉ đạo công tác thuốc nam tại xã, kể cả những nơi địch bắn phá ác liệt nhất.

- Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch rất chịu khó học hỏi từ đồng nghiệp cho tới ông lang, bà mế những kinh nghiệm chữa trị phù hợp với hoàn cảnh nước ta. Ông cũng đọc kỹ từng bài báo nhỏ của đồng nghiệp, học trò về một vấn đề mới cho tới những công trình lớn của Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, Là Giám đốc của Viện chống Lao Trung ương Ông đã giành 25% kinh phí cho các hoạt động của Y học cổ truyền, thành lập khoa Đông y tại Viện, ông giao cho các bác sĩ đọc từng chương trong sách của Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh để tìm ra những gì có thể áp dụng được trong bệnh về phổi. Ông cho mời và tuyển dụng các lương y có đức, có tài để thừa kế. Ông rất tâm đắc phương pháp điều trị toàn diện của Y học cổ truyền.

   -Cán bộ chiến sĩ, nhất là cán bộ y tế, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, trước lúc lên đường vào chiến trường, đều được Ông phổ biến những kinh nghiệm chữa rắn, rết, bọ cạp cắn, ngộ độc nấm, ngộ độc lá rừng các phương pháp điều trị vết thương theo kinh nghiệm của đồng bào miền Nam.

         

       - Ông đã tự mình uống thử Ích mẫu để xem tác dụng của thuốc ra sao, từ đó, ông vận động chị em sử dụng cao ích mẫu trong việc phòng và chữa bệnh phụ khoa. Trong điều trị lao, ngoài việc cho bệnh nhân uống Rimifon, Ông còn cho tiêm Filatov vào vùng huyệt phế du mà kết quả là rút ngắn được thời gian điều trị. Trẻ em bị ho gà, Ông cũng cho tiêm Filatov vào huyệt phế du. Kết quả thật khả quan.

 

        Ông cũng đặc biệt quan tâm đến những bài thuốc, vị thuốc dân gian, cho dùng thử thấy không độc và kết quả là Ông cho phổ biến để sử dụng rộng rãi như lá rau diếp cá trị các chứng viêm nhiễm, mỡ gấu chữa trĩ, nhiều phương pháp điều trị của Ông nghe nói rất buồn cười, nhưng khi áp dụng mọi người đều thấy có kết quả. Như thuốc NT9 điều trị choáng và ngộ độc nấm; như thuốc điều trị sa tử cung, ông dùng làm thuốc tăng sức cơ cho vận động viên.

         - Ông không đồng tình với một số cán bộ khoa học trong ngành cho rằng muốn phát triển nền y học Việt Nam phải xây dựng những phòng nghiên cứu được trang bị máy móc hiện đại , phải xây dựng một nền công nghiệp hóa dược nghĩa là phải đi theo con đường các nước phát triển đã đi. Trong các cuộc họp, Ông luôn luôn bảo vệ một cách thuyết phục quan điểm của Ông là muốn phát triển nền y học Việt Nam theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra: khoa học, dân tộc, đại chúng, cần phải thực hiện bằng con đường riêng, phù hợp với hoàn cảnh đất nước mình, nếu cứ đi theo con đường của đất nước đã phát triển thì luôn luôn tụt hậu đằng sau họ.

 

Dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nền y học cổ truyền dân tộc đã được khơi dậy và vươn lên xứng đáng với tầm vóc vốn có của nó.

 

Cuộc đời và sự nghiệp của Ông đã được các nhân sĩ đương thời đánh giá như sau:

         -  Bác sĩ Trần hữu Nghiệp viết về Ông :  Bác sĩ kiêm đại văn hào Nhật bản Watanabe có viết trong tiểu thuyết Đèn không hắt bóng như sau:” Người thầy thuốc chân chính phải vừa là một triết gia, vừa là kẻ tuyên truyền đạo lý làm người”Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đúng là người thầy thuốc như vậy.Triết học mà anh thực hiện, quả như lời Mác, không phải là đứng ngoài giải thích, mà lăn xả vào để cải tạo cuộc đời. Năm phương châm y tế cách mạng Anh nêu ra từ năm 1955, đường lối tổ chức y tế và nghiên cứu y học của Ông là những ví dụ điển hình

 

        - Khi ông mất, Giáo sư thạc sĩ André Roussel viết trên tạp chí của Hội y học Pháp Việt số 3, 1969 về ông như sau: Đó là một người hiền vĩ đại!

        Không hiền và vĩ đại sao được khi ông từ bỏ chức giám đốc bệnh viện lao vùng núi phía đông nước Pháp, từ bỏ thu nhập phòng khám tư cao hơn bất kể ông đốc phủ sứ thời đó để tham gia cách mạng dành độc lập, tự do cho tổ quốc; làm bộ trưởng y tế nhưng cả cuộc đời ông gắn liền với phân, nước, rác, với các bệnh lây truyền nguy hiểm đặc biệt là bệnh lao và luôn trăn trở khơi dậy nền YHCT và kết hợp YHCT với YHHĐ để đưa sức khỏe nhân dân và nền y tế thời đó tiến lên một bước, mà Francois Remy, một chuyên viên của tổ chức y tế thế giới đánh giá: Do kết quả được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch chỉ đạo đã đem lại kết quả mà Việt Nam là một trong 25 nước “bất hạnh nhất” có được một nền y tế tiên tiến gần như ở một số nước Trung Âu, như trình độ y tế của nước Pháp cách đây 10-15 năm.

       Không hiền và vĩ đại sao được khi cả cuộc đời ông, dù là thầy thuốc, dù hoạt động cách mạng, dù là bộ trưởng đều có tính cách nhân ái, bình dân, giản dị. Kể cả lúc chết cũng thật giản dị, quan tài là những tấm ván sạp ngủ của các chiến sĩ cưa ra, đóng lại; nơi chôn là bờ một dòng sông với mộ phần không bia. Như điếu văn của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tiễn biệt ông: “ không hề sợ gian khổ, hy sinh dưới bom đạn của quân thù, hoặc bên cạnh người bệnh, luôn hăng say và tận tụy với công việc, khiêm tốn giản dị, dũng cảm, vô tư không đòi hỏi gì cho mình, cũng không đòi hỏi gì quá đáng cho ngành mình..”. Như Jean Paul Sartre là nhà triết học hiện sinh viết trong thư chia buồn “ Chúng ta cảm phục và yêu mến nhân cách đạo đức, thông minh và tận tụy của Ông”. Như người bệnh nghèo nói về Ông “ người thầy thuốc có tấm lòng Bồ tát”.

       Ông thuộc về một số ít người không chết. Trong lịch sử dài dằng dặc của nhân loại có một số ít người không chết. Đó là những người hy sinh hết mình vì hạnh phúc của con người, hy sinh cả cái cao quí nhất trên đời này- sự sống của mình để cho ngày mai ca hát (thơ của Gabrien-Pêri).

        Với chúng ta là những người vinh dự được công tác trong một bệnh viện YHCT mang tên bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ngay trên mảnh đất và ngôi nhà mà gia đình bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hiến tặng để làm bệnh viện, là thế hệ tiếp nối bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hứa quyết tâm luôn nêu cao tinh thần bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trong lĩnh vực YHCT và kết hợp YHCT với YHHĐ; luôn thực hiện tốt lời dậy của Người trong chăm sóc phục vụ bệnh nhân:

“ Đến đón tiếp niềm nở,

Ở tận tình chăm sóc,

Về dặn dò ân cần.”

 để bệnh viện mãi xứng đáng với tên người : PHẠM NGỌC THẠCH.

Trong lòng dân tộc Việt Nam, trong trái tim nhân loại, hình ảnh của Bác Hồ là biểu tượng của tình yêu bao la, thiết tha nhất. Bác đã đi xa nhưng hình ảnh của Người vẫn còn mãi mãi với đất nước, với non sông, với cuộc sống không ngừng tiếp nối. Người đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá đó là tư tưởng, tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng cùng những giá trị nhân văn cao cả để lớp lớp các thế hệ Việt Nam học tập và noi theo từng ngày.
Thực hiện lời dạy đó, Chính quyền và Công đoàn Bệnh viện YHCT PNT Lâm Đồng trong những năm qua đã nỗ lực học tập và làm theo lời Bác, nghiêm túc bám sát các chuyên đề hàng năm để cụ thể hóa, vận dụng vào thực tiễn hoạt động xây dựng và phát triển BV, trong đó thể hiện rõ nét nhất là học tập và làm theo tư tưởng của Người về “Phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH  TẠI

KHOA KHÁM BỆNH - BỆNH VIỆN YHCT PHẠM NGỌC THẠCH

            Khoa Khám bệnh – Bệnh viện YHCT Phạm Ngọc Thạch Lâm Đồng được thành lập vào năm 1986 với đội ngũ bác sĩ, nhân viên nhiều kinh nghiệm. Khoa chúng tôi có nhiệm vụ chính là khám bệnh, điều trị và tư vấn cho người bệnh ngoại trú của tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh lân cận. Quý bệnh nhân đến khám tại khoa Khám bệnh của chúng tôi sẽ được hướng dẫn, phục vụ, chăm sóc và điều trị tận tình chu đáo.

           Qua 34 năm hình thành và phát triển, khoa Khám Bệnh - Bệnh viện YHCT Phạm Ngọc Thạch đã không ngừng được đầu tư cả về con người và các dịch vụ kỹ thuật mới nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám và điều trị của người bệnh.

          Hiện nay, khoa Khám Bệnh - Bệnh viện YHCT Phạm Ngọc Thạch có các phòng khám chuyên khoa và các dịch vụ kỹ thuật sau:

  1. Phòng khám và điều trị chuyên khoa YHCT: khám bệnh, bắt mạch kê đơn thuốc YHCT, Y học hiện đại kết hợp với các phương pháp không dùng thuốc như Điện châm, Hồng ngoại, Cấy chỉ, Xoa bóp bấm huyệt, Kéo dãn cột sống, Siêu âm điều trị…
  1. Phòng khám Tai Mũi Họng: Khám và điều trị các bệnh về Tai Mũi Họng của người lớn và trẻ em. Kết hợp phương pháp điều trị y học hiện đại và YHCT như hút rửa xoang bằng máy nội soi. Đặc biệt là khám bệnh bằng máy nội soi để phát hiện sớm các ung thư vòm họng, ung thư thanh quản…
  1. Phòng khám Nha: Với các trang thiết bị hiện đại như máy cạo vôi răng siêu âm, máy X-quang kĩ thuật số, ghế máy nha khoa, máy đo ống tủy cùng hệ thống khử khuẩn tiên tiến và áp dụng những kĩ thuật mới để điều trị tủy răng, nhổ răng, lấy cao răng bằng sóng siêu âm...
  1. Phòng khám Mắt: Được bố trí các trang thiết bị hiện đại như máy sinh hiển vi giúp khám và điều trị các bệnh thông thường về mắt,tật khúc xạ. Thực hiện một số thủ thuật như đo khúc xạ chủ quan, đo khúc xạ khách quan, lấy dị vật, chích chắp lẹo, bơm rửa lệ đạo, đo nhãn áp…
  1. Phòng khám Da liễu: Điều trị Da Liễu là một thế mạnh của YHCT,chúng tôi có thể kết hợp vả y học hiện đại và y học cổ truyền để điều trị bệnh. Bệnh nhân sẽ được bắt mạch, kê đơn thuốc uống, thuốc tắm hoặc bôi để điều trị bệnh và chăm sóc da thẩm mĩ. Ngoài ra phòng khám Da Liễu đã được trang bị máy nội soi da và tóc, máy siêu âm điều trị chăm sóc da...giúp hỗ trợ trong quá trình điều trị.
  1. Phòng Châm cứu Ngoại trú: Người bệnh sau khi được bác sĩ thăm khám chẩn đoán bệnh, nếu có chỉ định sẽ được nhân viên y tế hướng dẫn đến châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, chiếu đèn hồng ngoại tại phòng châm cứu Ngoại trú hàng ngày vào giờ làm việc(kể cảThứ 7 và Chủ nhật).
  1.  Phòng thủ thuật Cấy chỉ: Cấy chỉ là phương pháp đưa chỉ Catgut (chỉ tự tiêu sau 15 đến 20 ngày) vào huyệt châm cứu của hệ kinh lạc để duy trì sự kích thích lâu dài qua đó tạo tác dụng điều trị như châm cứu.Đây là phương pháp điều trị rất thuận tiện cho các bệnh nhân ở xa hoặc không có điều kiện đi châm cứu hàng ngày.

Chỉ định điều trị:

- Các bệnh nhân có bệnh mạn tính như hội chứng tay cổ, đau thần kinh tọa, đau thần kinh ngoại biên, bại liệt, tai biến mạch máu não, thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa cột sống thắt lưng, liệt dây thần kinh số VII, đau đầu, mất ngủ, viêm mũi xoang dị ứng, hen phế quản...

- Các bệnh nhân có bệnh mạn tính không có điều kiện đi châm cứu thường xuyên.

- Đặc biệt Bệnh viện triển khai cấy chỉ làm giảm mỡ bụng đã đạt được những hiệu quả khả quan nhất định.

Liệu trình điều trị: Mỗi liệu trình điều trị cấy chỉ từ 4 đến 6 lần, mỗi lần cấy cách nhau từ 10 đến 15 ngày.

 

  1. Phòng đo Điện não, Điện cơ:

* Đo điện não là một kỹ thuật ghi lại dòng điện sinh học trong não bằng các sóng trên giấy qua đó giúp bác sĩ chẩn đoán được các bệnh lý về thần kinh, tâm thần của người bệnh như Thiểu năng tuần hoàn não, Suy nhược thần kinh, Đau đầu chưa rõ nguyên nhân…

* Đo điện cơ là một kỹ thuật ghi lại dòng điện sinh học của một vùng cơ do một hoặc nhiều dây thần kinh chi phối, kết quả được thể hiện bằng các biểu đồ trên giấy qua đó giúp bác sĩ chẩn đoán được bệnh lý của dây thần kinh và cơ khu vực cần chẩn đoán.

  1. Ngoài ra, khoa Khám bệnh còn tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho các cơ quan, doanh nghiệp, trường học… theo hợp đồng và khám chứng nhận sức khỏe để làm việc, học tập và lái xe mô tô và ô tô các loại.

 

 

Thời gian làm việc tại khoa Khám bệnh như sau:

- Từ thứ 2 đến thứ 6:      Buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ 30.

                                                            Buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30.

- Thứ 7 và Chủ nhật:     Buổi sáng từ 7 giờ 30 đến 11 giờ.

                                                             Buổi chiều từ 13 giờ 30 đến 16 giờ.

            ( Thứ 7 và Chủ nhật không nhận khám chứng nhận sức khỏe để làm việc, học tập và lái xe mô tô và ô tô).

      Quý khách có thể liên hệ trước theo số điện thoại khoa Khám bệnh:                 ĐT:02633822774

Khoa Khám bệnhBệnh viện YHCT Phạm Ngọc Thạch Lâm Đồng

xin hân hạnh thông báo để được phục vụ quý khách và quý bệnh nhân!

           

 

Trong một số trường hợp, phương pháp sinh mổ được lên kế hoạch vì một số nguyên nhân y tế mà sinh thường sẽ gây nguy hiểm. Trước tiên, mỗi thai phụ cần biết rằng mình phải sinh mổ và lên lịch trình cụ thể cho việc này do được chuẩn đoán mang thai đôi hoặc nhiều hơn.

Trường hợp khác là do mẹ bầu bị mắc một số bệnh như đái tháo đường, huyết áp cao hoặc bị bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng phức tạp đến thai kỳ như HIV, bệnh mụn rộp sinh dục; ngoài ra còn có thể do các mẹ gặp vấn đề về nhau thai trong khi mang thai.

Sinh mổ là biện pháp cần thiết trong những điều kiện nhất định như thai quá to mà khung chậu của mẹ quá hẹp hoặc nếu bị thai ngôi mông mà các bác sĩ đã nỗ lực xoay thai trước khi sinh nhưng không thành công.

Đôi khi quyết định sinh mổ của các bác sĩ cũng không được lên kế hoạch trước và nó được thực hiện do tình huống nguy cấp có liên quan đến sức khỏe mẹ, thai nhi hoặc cả hai đều đang trong tình trạng nguy hiểm. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra bởi vì một vấn đề nào đó trong quá trình mang thai hoặc đang trên bàn đẻ thường, ví dụ như thời gian sinh diễn ra quá lâu hoặc thai nhi lúc đó không đủ oxy để thở.

Một số ca sinh mổ là do tự nguyện lựa chọn, nghĩa là do chính các mẹ yêu cầu trước khi sinh dù không có vấn đề bệnh tật gì. Các mẹ có thể chọn sinh mổ nếu muốn sinh theo kế hoạch hoặc nếu trước đây các mẹ đã trải qua quá trình sinh thường rất khó khăn, vất vả.

Mặc dù về cơ bản sinh mổ cũng khá an toàn nhưng trong nhiều tình huống thì nó lại nguy hiểm hơn so với sinh thường. Phương pháp sinh mổ chính là một cuộc phẫu thuật phức tạp, thực hiện việc mổ bụng của người mẹ và lấy thai nhi ra ngoài từ trong tử cung do sinh thường quá nguy hiểm hoặc quá khó khăn.

Vì những mẹ mang thai lần đầu tiên mà sinh mổ thì những lần mang thai tiếp theo sẽ tiếp tục phải sinh mổ nên sinh thường vẫn được các mẹ lựa chọn nhiều hơn. Cứ 2/3 bé ở Mỹ được sinh ra bằng phương pháp sinh thường.

Nhìn chung, bác sĩ Allison Bryant – chuyên gia y tế về sản khoa của bệnh viện trung ương Massachusetts ở Boston cho biết đối với phụ nữ, sinh thường là một cách trải nghiệm hoàn toàn tự nhiên. Bác sĩ còn nói thêm phụ nữ cảm thấy như vậy chỉ khi họ thực sự có ý định sinh thường tự nhiên.

Bác sĩ Bryant cho rằng:

Bất kể các mẹ chọn phương pháp sinh nào thì các mẹ cũng phải là người nắm bắt rõ nhất lựa chọn của mình, tức là cần đưa ra ý kiến của mình và bảo vệ điều mình muốn và đưa ra sự lựa chọn phù hợp nhất. Sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về ưu và nhược điểm của 2 phương pháp sinh để giúp các mẹ sắp sinh con đưa ra quyết định đúng đắn cho mình nhé.

Ưu điểm của việc sinh thường đối với các mẹ

Quá trình sinh con theo phương pháp sinh thường sẽ diễn ra tương đối lâu và sẽ khiến các mẹ cảm thấy khó khăn, mệt mỏi về thể chất. Một trong những ưu điểm của việc sinh thường đó là các mẹ không phải ở lại viện lâu và thời gian hồi phục sau sinh cũng nhanh hơn sinh mổ.

Theo bác sĩ Bryant chia sẻ với Live Science:

Tuy quy định của mỗi quốc gia khác nhau nhưng thông thường thời gian cho phép các mẹ nằm viện sau sinh thường là khoảng 24 – 48 tiếng đồng hồ. Nếu mẹ nào cảm thấy cơ thể ổn định có thể ra viện sớm hơn thời gian cho phép được quy định tại quốc gia đó.

Những mẹ có thể thực hiện sinh thường sẽ tránh được ca phẫu thuật sinh mổ và nhiều rủi ro liên quan đến việc sinh mổ như mất nhiều máu, để lại sẹo mổ, nhiễm trùng, phản ứng phụ với thuốc tê và sau sinh sẽ bị cảm thấy đau lâu hơn sinh thường. Ngoài ra, sau sinh thường, các mẹ sẽ cảm thấy ít mệt mỏi, buồn nôn hơn sinh mổ nên mẹ có thể bế bé và cho bé bú sữa non sớm hơn sau khi sinh.

Nhược điểm của sinh thường đối với các mẹ

Khi sinh thường chỉ có chút nguy cơ vùng da và mô ở xung quanh âm đạo có thể bị giãn căng rồi rách khi thai nhi dần dần di chuyển qua đường dẫn sinh. Nếu vết rách nghiêm trọng thì sẽ được khâu lại và điều đó có thể khiến các mẹ bị ốm hoặc gây tổn thương cho các cơ xương chậu vốn có chức năng kiểm soát lượng nước tiểu và đường ruột của con người.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ sinh thường bị mất kiểm soát hơn về đường ruột và việc tiểu tiện so với phụ nữ sinh mổ. Họ thường bị tiểu són khi ho, hắt hơi hoặc cười lớn.

Sau khi sinh thường, các mẹ sẽ bị đau kéo dài ở vùng đáy chậu (vùng giữa hậu môn và cơ quan sinh dục).

Ưu và nhược điểm của sinh thường với các bé

Theo bác sĩ Bryant, một lợi ích dành cho bé khi sinh thường đó là các mẹ sẽ được da tiếp da với con sớm hơn so với phụ nữ sinh mổ và bé có thể được bú sữa mẹ sớm hơn.

Bác sĩ Bryant còn cho biết rằng trong quá trình sinh thường, các cơ tham gia vào quá trình này có khả năng co bóp đẩy dịch trong phổi của bé ra ngoài. Điều đó rất có lợi cho bé bởi vì nó giúp các bé ít có nguy cơ phải đối mặt với vấn đề hô hấp khi sinh.Trẻ được sinh thường sẽ nhận được hàng tá lợi khuẩn vì chúng di chuyển qua đường dẫn sinh của mẹ nên có thể tăng cường khả năng miễn dịch và bảo vệ chức năng đường ruột cho bé.

Theo trường y Stanford, nếu ca sinh thường kéo dài quá lâu hoặc trường hợp thai nhi quá to thì bé có thể tự khiến mình bị thương, ví dụ như bị thâm tím da đầu hoặc gãy xương đòn.

Ưu điểm của sinh mổ với các mẹ

Bác sĩ Bryant cho rằng không có nhiều lợi ích khi sinh mổ nếu các mẹ có khả năng sinh thường. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai biết rằng họ cần phải sinh mổ thì trước tiên ca sinh này có thể được lên kế hoạch, giúp mọi người cảm thấy tiện lợi và dễ phán đoán tình hình hơn so với những ca sinh thường kéo dài.

 

Tin Mới Nhất

Hình Ảnh Hoạt Động

Video

Khảo Sát

Facebook

Thống kê

290206
Hôm Nay
Hôm Qua
Tuần Này
Tuần Trước
Tháng Này
Tháng Trước
Tất cả
46
482
1384
287503
46
7718
290206

Your IP: 54.165.57.161
2021-12-01 01:15